Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản. Vậy, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, có được miễn trách nhiệm hình sự không ?
MỤC LỤC
1. Thế nào là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ?
Tội phạm có thể thực hiện được đến cùng cũng có thể dừng lại ở giai đoạn nhất định. Trường hợp tội phạm dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị hay chưa đạt có hai trường hợp: nếu dừng lại vì nguyên nhân khách quan thì tội phạm ở giai đoạn phạm tội chuẩn bị phạm tội hay chưa đạt và trách nhiệm hình sự đặt ra. Trường hợp thứ hai tội phạm dừng lại không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân xuất phát từ ý chí của người phạm tội tự họ muốn dừng việc phạm tội thì người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự. Trường hợp này chính là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Về thời điểm: Chỉ có thể xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội và tội phạm chưa đạt chưa hoàn thành. Giai đoạn tội phạm đã hoàn thành tức là hành vi đã thỏa mãn tất cả các dấu hiệu của cấu thành một tội phạm cụ thể thì vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không đặt ra.
Nếu A vào nhà B trộm cắp xe máy mang ra khỏi nhà của B, mặc dù không bị ai phát hiện nhưng A quyết định đem trả chiếc xe máy ở vị trí cũ. Trường hợp này không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Vì tội phạm (trộm cắp tài sản) đã hoàn thành. Do đó, A vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tự nguyện khắc phục hậu quả.
Về mặt khách quan, hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thể hiện ở việc dừng việc phạm tội một cách dứt khoát những tội phạm mới bắt đầu hoặc đang thực hiện. Dừng lại dứt khoát là không thực hiện thêm bất kỳ hành vi phạm tội nào nữa. Không được coi là dứt khoát nếu người phạm tội chỉ tạm thời dừng việc phạm tội để tìm kiếm cơ hội, công cụ, phương tiện, lựa chọn thủ đoạn phạm tội mới. Ví dụ: A giơ dao lên dọa chị B nhằm cướp tài sản, nhưng chị B khóc lóc, van xin. Thấy vậy, A động lòng thương và bỏ đi.
Về mặt chủ quan, hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải xuất phát từ ý thức chủ quan của người phạm tội tức là người phạm tự mình từ bỏ ý định phạm tội và hành vi phạm tội cho dù không có gì (yếu tố khách quan) ngăn cản. Đây là dấu hiệu quan trọng so với phạm tội chưa đạt. Nguyên nhân dẫn đến việc người phạm tội từ bỏ ý định phạm tội và dừng việc phạm tội có thể do họ hối hận, sợ bị pháp luật trừng trị, thương hại nạn nhân, nghe theo lời khuyên bảo của người khác. Việc xác định thế nào là tự nguyện chấm dứt việc phạm tội trên thực tế khá phức tạp.
Ví dụ: Chị A là công nhân khu công nghiệp đi làm ca sáng sớm. Trên đoạn đường vắng chị bị B tấn công nhằm giao cấu trái ý muốn. Chị A nhanh trí hô lên: tao bị HIV mày thích thì vào đây, A sợ quá bỏ chạy và bị bắt. Trường hợp A không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi chúng ta đặt giả thiết nếu không có việc chị A dọa có HIV thì A chắc chắn sẽ thực hiện hành vi phạm tội và đây là trường hợp người phạm tội dừng việc phạm tội vì nguyên nhân khách quan chứ không phải chủ quan.
Để khuyến khích người phạm tội tự nguyện dừng việc phạm tội và tránh gây hậu quả thiệt hại cho xã hội. Điều luật này quy định miễn trách nhiệm hình sự cho người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Đây là trường hợp người phạm tội đương nhiên được miễn nói cách khác là cơ quan tiến hành tố tụng buộc phải miễn cho họ.
Nếu hành vi thực tế đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành của một tội khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã cấu thành.
Ví dụ: A có ý định giết B bằng cách dùng dao đâm. Khi A đâm nhiều nhát vào B, thấy B chảy nhiều máu, A dừng lại đưa B đi cấp cứu. B bị thương tỷ lệ thương tật là 50%. Trong trường hợp này, hành vi của A được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, nhưng trách nhiệm hình sự của A được xác định là: A được miễn trách nhiệm hình sự về tội giết người. A phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích.
2. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, có được miễn trách nhiệm hình sự không ?
Theo Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội như sau:
“Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.”
Căn cứ trên quy định người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
Như vậy, có thể thấy người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự cho tội danh định phạm.
Tuy nhiên, nếu các yếu tố cấu thành một tội danh khác thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự cho tội danh đó.
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, có được miễn trách nhiệm hình sự ? Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.