Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có thể chứng kiến rất nhiều hành vi trộm cắp như: trộm cắp ở bến tàu, bến xe, nhà ga, trong chợ, trộm trên các phương tiện giao thông…; ở đâu, lúc nào cũng có thể xảy ra hành vi nói trên. Vậy, người phạm tội trộm cắp tài sản bị xử lý như thế nào ?

MỤC LỤC
1. Trộm cắp tài sản là gì ?
Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác.
Đặc điểm nổi bật của tội trộm cắp tài sản là người phạm tội lén lút (bí mật) lấy tài sản mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết mình bị mất tài sản, chỉ sau khi mất tài sản họ mới biết bị mất tài sản.
Tính chất lén lút (bí mật) của hành vi trộm cắp tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội giấu giếm hành vi phạm tội của mình. Lén lút, đối lập với công khai trắng trợn. Tuy nhiên, lén lút không phải đặc trưng duy nhất của tội trộm cắp tài sản, mà trong nhiều tội phạm, người phạm tội cũng lén lút nhưng là để thực hiện một mục đích khác như: lẻn vào nhà người khác để đặt mìn nhằm mục đích giết hại những người trong gia đình họ, lẻn vào phòng ngủ của phụ nữ để thực hiện hành vi hiếp dâm… Vì vậy, khi nói đến tội trộm cắp tài sản thì không thể không đi kèm với hành vi chiếm đoạt tài sản, nếu lén lút mà không nhằm chiếm đoạt tài sản thì không phải là trộm cắp tài sản. Có thể nói, trộm cắp là chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lén lút.
2. Tội trộm cắp tài sản, những dấu hiệu cơ bản
a. Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi (Khoản 3 và Khoản 4) có năng lực trách nhiệm hình sự.
Xem thêm : Người dưới 18 tuổi trộm cắp tài sản, bị xử lý như thế nào ?
b. Các dấu hiệu về khách thể của tội phạm
Khách thể của tội trộm cắp tài sản cũng tương tự như tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội trộm cắp tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu.
Tuy nhiên, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người; gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Xem thêm : Hành hung để tẩu thoát sau khi trộm được tài sản, bị tội gì ?
c. Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm
+ Hành vi khách quan
Do đặc điểm của tội trộm cắp tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, không trông giữ cẩn thận hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như: chen lấn, xô đẩy nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết.
Tuy nhiên, không phải trường hợp phạm tội nào cũng giống nhau, thực tiễn xét xử cho thấy có nhiều trường hợp dễ nhầm lẫn với các tội phạm khác, có khi xác định hành vi đó là tội trộm cắp, nhưng lại không phải, ngược lại có trường hợp được xác định không phải là hành vi trộm cắp nhưng lại đúng là trộm cắp. Đối với các trường hợp này thường nhầm với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội chiếm giữ trái phép tài sản. Để xác định hành vi trộm cắp tài sản và phân biệt tội trộm cắp với một số tội phạm khác gần kề, chúng ta nghiên cứu một số dạng trộm cắp tài sản có tính chất đặc thù sau:
– Người phạm tội dùng những thủ đoạn gian dối để tiếp cận tài sản, khi có điều kiện mới lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Ví dụ: Bùi Văn D đóng giả bộ đội vào ngủ nhờ nhà ông Đinh Văn T, ông T tưởng D là bộ đội thật nên cho ngủ. Đến 12 giờ đêm, D thức giấc thấy mọi người trong nhà đã ngủ say, D lục tủ lấy được 500.000.000 đồng và 10 lượng vàng; sau đó D lấy luôn cả chiếc xe đạp của gia đình ông T, dắt ra khỏi nhà để tẩu thoát, nhưng D đạp xe ra tới cổng làng thì bị tổ tuần tra bắt quả tang cùng với tang vật đã trộm cắp ở nhà ông T.
– Người phạm tội lợi dụng chỗ đông người, chen lấn, xô đẩy để chiếm đoạt tài sản của người khác. Ví dụ: Nguyễn Văn N và một số tên khác thường đến các bến tàu, bến xe để hoạt động phạm tội. Ngày 19-3-2019, N và đồng bọn đến nhà ga thành phố H, thấy cửa bán vé tàu Thống Nhất có nhiều người xếp hàng mua vé đang chen lấn, xô đẩy; N bàn với đồng bọn giả vờ là hành khách mua vé tàu vào chen lấn, xô đẩy rồi lén giật đồng hồ của anh Hoàng Công Kh rơi xuống đất để đồng bọn nhặt. Do mải chen lấn, xô đẩy nên anh Kh không biết ai giật đồng hồ của mình. Nếu chỉ căn cứ vào hành vi thì trường hợp phạm tội này sẽ được xác định là cướp giật tài sản, nhưng căn cứ vào thủ đoạn phạm tội và hoàn cảnh thực tế lúc xảy phạm thì lại là hành vi trộm cắp tài sản vì N và đồng phạm không có ý thức công khai chiếm đoạt đồng hồ của anh Kh, mà chỉ lợi dụng sự chen lấn, xô đẩy để lén giật đồng hồ và chúng tin rằng anh Kh không thể phát hiện được; thực tế anh Kh cũng không biết ai đã giật đồng hồ của mình.
– Người phạm tội lợi dụng chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không có mặt ở nơi để tài sản hoặc tài sản không có người trực tiếp quản lý (tài sản ở nơi công cộng), nên đã chiếm đoạt. Ví dụ: Trịnh Hoài Đ, Vũ Công C và Đặng Quang P đã bàn với nhau cải trang là nhân viên của công ty cung ứng điện, dùng các dụng cụ cách điện, trong thời gian 20 ngày chúng đã tháo được 200 chiếc công tơ (đồng hồ đo điện). Trường hợp phạm tội này, nếu chỉ căn cứ vào hình thức chiếm đoạt thì có thể xác định hành vi của Đ, C và P là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vì lúc thực hiện tội phạm chúng không hề che giấu hành vi của mình, nhiều người nhìn thấy chúng tháo công tơ nhưng không ai nghi ngờ vì cứ tưởng chúng là nhân viên của công ty điện lực. Tuy nhiên, tính chất lén lút của hành vi lại thể hiện ở chỗ chúng che giấu thân phận thật của mình với mọi người xung quanh và người quản lý tài sản.
+ Hậu quả
Tương tự như tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, hậu quả của tội trộm cắp tài sản cũng là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là trị giá tài sản bị chiếm đoạt. Nói chung, tài sản bị chiếm đoạt do hành gây ra là tiền các loại, hàng hóa và các giấy tờ có giá trị thanh toán như phiếu công trái, ngân phiếu…
Thực tiễn cho thấy, nhiều trường hợp bị hại không bị mất tài sản mà chỉ mất các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản như: giấy chứng nhận đăng ký xe máy, xe ô tô; giấy chứng nhận quyền sở hữu về nhà ở; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…
Các trường hợp này, thông thường người phạm tội thực hiện hành vi trộm cắp nhưng không biết tài sản mà mình định trộm cắp là bao nhiêu, gồm những loại tài sản nào như: trộm cắp túi xách, ví (bóp)…. nhưng sau khi kiểm tra không có tiền hoặc tài sản có trị giá mà chỉ có các giấy tờ trên nên chúng vứt bỏ. Có trường hợp người phạm tội tìm cách bắt bị hại phải chuộc lại các giấy tờ này với số tiền rất lớn. Vậy các loại giấy tờ trên, có coi là tài sản (đối tượng tác động của hành vi trộm cắp) hay không?
Trước hết, cần khẳng định rằng, các giấy tờ trên, dù có thể đem bán, đem trao đổi với trị giá lớn nhưng không thể coi đó là tài sản, nó chỉ là giấy tờ chứng nhận về tài sản nên nó không phải là đối tượng tác động của hành vi trộm cắp, nếu người phạm tội chỉ có ý định trộm cắp các loại giấy tờ trên để thực hiện một mục đích khác thì họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi sử dụng giấy tờ đó vào mục đích của họ. Ví dụ: Phạm B đã bán nhà cho chị Nguyễn Thị Hạ nhưng B lại tìm cách trộm cắp lại giấy tờ nhà để dùng bộ giấy tờ này thế chấp ngân hàng vay tiền, thì hành vi của B không phải là hành vi trộm cắp tài sản của chị H mà là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ngân hàng.
d. Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm
Tội trộm cắp tài sản được thực hiện do cố ý. Mục đích của người phạm tội là muốn chiếm đoạt được tài sản.
3. Tội trộm cắp tài sản, bị xử lý như thế nào ?
Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, cụ thể :
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Tài sản là bảo vật quốc gia;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Đối với cá nhân thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần đầu, không gây ra hậu quả nghiêm trọng về giá trị tài sản (cụ thể là dưới 2.000.000 đồng) và chưa bị kết án về các tội về chiếm đoạt tài sản thì người thực hiện hành vi vi phạm chỉ bị xử phạt hành chính.
Cụ thể tại Điểm a Khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp tài sản, xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản.
Xem thêm : Phạm tội trộm cắp tài sản có được hưởng án treo không ?
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.



