Phát hiện con không phải con ruột, phải làm sao ?

292

Trong thời gian sống ly thân, nhiều trường hợp người vợ đã nảy sinh quan hệ tình cảm với người khác và có con. Vậy, phát hiện con không phải con ruột, người chồng có thể yêu cầu ly hôn không ?

Phát hiện con không phải con ruột chồng có được yêu cầu ly hôn ?
Phát hiện con không phải con ruột chồng có được yêu cầu ly hôn ?

1. Ai có quyền yêu cầu ly hôn ?

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, người có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn bao gồm :

– Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

– Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

– Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Ngược lại, nếu vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người vợ có quyền được yêu cầu Tòa án cho ly hôn.

2. Điều kiện để được yêu cầu ly hôn ?

Quan hệ hôn nhân của hai vợ chồng có thể chấm dứt nếu hai bên cùng thỏa thuận hoặc theo yêu cầu của một bên.

Điều kiện để ly hôn thuận tình (Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) :

– Hai bên tự nguyện ly hôn;

– Hai bên đã thỏa thuận, đồng thuận về việc chia tài sản, quyền nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng…

Điều kiện để ly hôn đơn phương (Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) :

– Vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình;

– Vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích;

– Khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ;

– Khi một người vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được;

Theo điểm a khoản 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP

Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

– Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

3. Phát hiện con không phải con ruột, người chồng có thể yêu cầu ly hôn không ?

Không phải mọi trường hợp biết con không phải con mình người chồng cũng được ly hôn. Người chồng chỉ được Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn khi đáp ứng 02 điều kiện sau đây:

– Có bằng chứng đầy đủ về việc đứa trẻ không phải con đẻ (bằng chứng ngoại tình khiến hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thẻ kéo dài; vợ, chồng không thể ở cùng với nhau được nữa);

– Vợ không thuộc trường hợp mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Do vậy, với quy định của pháp luật, khi người vợ đang mang thai trong thời kỳ hôn nhân thì người chồng không được quyền đơn phương ly hôn.

Nếu muốn ly hôn thì người chồng phải chờ khi con đã quá 12 tháng tuổi.

Cũng theo quy định trên, luật chỉ hạn chế quyền được yêu cầu xin ly hôn của người chồng khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi mà không hạn chế quyền ly hôn của người vợ. Do đó, người vợ dù đang có thai vẫn có quyền được yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

4. Chưa ly hôn mà có con với người khác, có vi phạm pháp luật ?

Theo điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình đối với hành vi chưa ly hôn mà có con với người khác thì :

Cấm các hành vi sau đây :

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

Đồng thời, theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 01 năm 2001, chung sống như vợ chồng được hiểu là người có vợ hoặc có chồng sống với người khác và có các bằng chứng:

– Chung sống một cách công khai hoặc không công khai nhưng sinh hoạt như một gia đình.

– Có con chung.

– Được hàng xóm và xã hội coi như vợ chồng.

– Có tài sản chung.

Do vậy, việc có con riêng khi chưa ly hôn là một trong các bằng chứng cho việc chung sống với nhau như vợ chồng. Ngoài việc có con riêng, nếu có thêm các bằng chứng khác theo hướng dẫn nêu trên thì có thể bị xử lý về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.

5. Chưa ly hôn mà có con với người khác, bị xử phạt thế nào ?

  • Về xử phạt vi phạm hành chính

Theo khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP

Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.

  • Về truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo Điều 182 Bộ luật Hình sự về “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng”

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Như vậy, chưa ly hôn mà có con với người khác nhưng không bị coi là chung sống với người khác như vợ chồng thì rất khó để xử lý về hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Chỉ khi có đầy đủ bằng chứng về việc người này đang chung sống với người khác như vợ chồng thì tuỳ vào mức độ, tính chất của hành vi mà bị xử lý bằng các hình thức như trên.

6. Phát hiện con không phải con ruột, có phải cấp dưỡng khi ly hôn ?

Quy định về xác định cha, mẹ

Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định :

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, được xem là con chung của vợ chồng khi :

– Sinh ra trong thời kỳ hôn nhân.

– Do vợ mang thai trong thời kỳ hôn nhân.

– Do vợ mang thai khi đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp nhưng được sinh ra trong vòng 300 ngày sau khi chấm dứt quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật.

– Sinh ra trước khi đăng ký kết hôn, được cha mẹ thừa nhận.

Dù trên thực tế có thể không phải là con ruột nhưng nếu thuộc một trong các trường hợp nêu trên và chưa có quyết định của Tòa án thì vẫn được xác định là con chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, dù thuận tình ly hôn hay đơn phương ly hôn thì sẽ có một người giành được quyền nuôi con và người không ở với con sẽ có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con.

Phát hiện con không phải con ruột thì phải làm thế nào ?

Trong trường hợp người chồng không thừa nhận con chung thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định (theo Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Căn cứ quy định này, nếu phát hiện con chung không phải con ruột của mình và muốn không thừa nhận con thì người không thừa nhận cần phải :

– Cung cấp được chứng cứ chứng minh : xét nghiệm ADN của cơ quan y tế có thẩm quyền.

– Gửi đơn yêu cầu đến Toà án về việc không thừa nhận con và được Toà án ra quyết định công nhận yêu cầu này.

Khi đó, nếu được Tòa án quyết định chấp nhận yêu cầu thì sẽ làm chấm dứt quan hệ cha, mẹ con với người con (do không có quan hệ huyết thống) và không phải thực hiện nghĩa vụ, quyền của cha mẹ với con nêu tại Điều 69, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cụ thể :

Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Con không phải con ruột, hậu quả như thế nào ?

Người không nhận con sẽ được chấm dứt các nghĩa vụ đối với người không phải là con ruột của mình. Cụ thể :

– Người không nhận con (sau khi đã có quyết định của Toà) nếu là người đang trực tiếp nuôi con sẽ không phải nuôi con nữa mà sẽ trao con lại cho người còn lại.

– Người không nhận con (sau khi đã có quyết định của Toà) nếu là người đang có trách nhiệm cấp dưỡng thì không phải thực hiện việc cấp dưỡng cho người con không phải là con ruột.

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Phát hiện con không phải con ruột, phải làm sao ? Hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn. Mọi vướng mắc của bạn sẽ được hỗ trợ nhiệt tình và nhanh chóng.