Tội ra bản án trái pháp luật theo Điều 370 Bộ luật Hình sự

187

Ra bản án trái pháp luật là hành vi ban hành bản án mà thẩm phán hoặc hội thẩm biết rõ là trái pháp luật. Vậy, người phạm tội bị xử lý như thế nào ?

Tội ra bản án trái pháp luật
Tội ra bản án trái pháp luật

1. Tội ra bản án trái pháp luật, những dấu hiệu cơ bản

a. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này cũng là chủ thể đặc biệt và đặc biệt hơn nữa là chỉ có thẩm phán hoặc hội thẩm (hội thẩm nhân dân hoặc hội thẩm quân dân) mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

Điều luật quy định chỉ có thẩm phán nhưng không vì thế mà cho rằng đối với các chức vụ như: chánh án, phó chánh án, chánh tòa, phó chánh tòa không phải là chủ thể của tội phạm này. Nếu chánh án, phó chánh án, chánh tòa, phó chánh tòa được giao xét xử vụ án (tức là họ thực hiện nhiệm vụ của thẩm phán) mà ra bản án trái pháp luật thì vẫn là chủ thể của tội phạm này.

Trường hợp chánh án, phó chánh án, chánh tòa, phó chánh tòa không trực tiếp xét xử hoặc giải quyết vụ án nhưng đã ra lệnh cho thẩm phán, hội thẩm ra bản án trái pháp luật thì tùy trường hợp mà pháp luật hoặc tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ hoặc tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật.

Trường hợp thẩm phán, hội thẩm ra bản án trái pháp luật theo chỉ đạo của chánh án, phó chánh thì thẩm phán và hội thẩm vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ra bản án trái pháp luật, còn chánh án, phó chánh án tùy từng trường hợp cụ thể mà phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ hoặc tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật.

Trường hợp thẩm phán, hội thẩm đã hết nhiệm kỳ nhưng cố tình xét xử và ra bản án trái pháp luật thì không coi là hành vi ra bản án trái pháp luật vì họ không thỏa mãn dấu hiệu về chủ thể của tội phạm, mà hành vi của họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ.

b. Khách thể của tội phạm

Tội ra bản án trái pháp luật không chỉ xâm phạm đến uy tín của tiến hành tố tụng nói chung và của tòa án nói riêng, mà còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng; quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và của công dân. Đối tượng tác động của tội phạm này là bản án.

c. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan

Thẩm phán, hội thẩm ra bản án trái pháp luật có thể bằng cách viết ra, tuyên án, ban hành bản án mà biết rõ là trái pháp luật. Tuy nhiên, nếu mới viết ra nhưng chưa tuyên án, chưa ban hành thì chưa phải là ra bản án.

Bản án được ví như là sản phẩm cuối cùng của quá trình điều truy tố, xét xử nhưng đó là kết quả trực tiếp của hoạt động xét xử của hội đồng xét xử. Do đó, trách nhiệm trực tiếp đối với bản án là của các thành viên hội đồng xét xử. Vì là “sản phẩm” nên bản án phải là một văn bản có giá trị thi hành, nếu mới viết ra (soạn thảo) mà chưa tuyên đọc hoặc chưa ban hành thì chưa coi là đã “ra bản án”, mà đó chỉ là dự thảo bản án.

Trường hợp bản án đã được thông qua trong phòng nghị án, có đủ chữ ký của các thành viên hội đồng xét xử nhưng vì lý do nào đó mà bản án đó chưa được tuyên đọc, chưa được ban hành, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cơ quan, tổ chức có liên quan chưa nhận được và các quyết định của bản án đó chưa được thi hành thì là trường hợp phạm tội chưa đạt.

Để ra được một bản án trái pháp luật, thẩm phán hoặc hội thẩm phải bằng những thủ đoạn khác nhau, vì bản án khác với quyết định. Quyết định có thể do một người ban hành nhưng bản án là văn bản của cả một tập thể (hội đồng xét xử ba người hoặc năm người; nếu là quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì có thể nhiều hơn). Vì vậy, để ra một bản án trái pháp luật mà không bị phát hiện thì người phạm tội phải thực hiện nhiều thủ đoạn khác nhau. Ví dụ: Nếu chỉ có thẩm phán chủ tọa phiên tòa có hành vi ra bản án trái pháp luật thì họ phải nói dối với các hội thẩm, thẩm phán khác hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác để các hội thẩm, thẩm phán khác ký vào bản án và biên bản nghị án.

Trường hợp thẩm phán đã tuyên đọc bản án trái pháp luật nhưng sau khi tuyên án, vì sợ bị trách nhiệm nên đã sửa chữa bản án (bản án được phát hành) theo hướng không trái pháp luật thì người thẩm phán đó vẫn phạm tội ra bản án trái pháp luật, bởi lẽ bản án tuy chưa ban hành nhưng đã công bố (tuyên án) là đã hoàn thành hành vi ra bản án.

Liên quan đến hành vi ra bản án trái pháp luật là việc nghị án. Theo quy định của pháp luật thì “biên bản nghị án” là cơ sở cho việc ra bản án; bình thường thì nội dung nghị án được xác định là tài liệu gốc, nếu giữa bản án và biên bản nghị án có sự khác nhau thì căn cứ vào biên bản nghị án để xác định. Vì vậy, nếu thẩm phán tuyên đọc bản án hoặc ban hành bản án trái pháp luật nhưng biên bản nghị án lại không trái pháp luật thì chỉ có thẩm phán chịu trách nhiệm về việc ra bản án trái pháp luật đó, còn hội thẩm không chịu trách nhiệm về bản án trái pháp luật đó. Tuy nhiên, hành vi nghị án và biên bản nghị án chưa phải là hành vi ra bản án. Vì vậy, nếu hội đồng xét xử mới nghị án nhưng chưa ra bản án thì tùy trường hợp mà các thành viên của hội đồng xét xử bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra bản án trái pháp luật.

Hậu quả

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Tuy nhiên, nếu hậu quả xảy ra thì tùy trường hợp, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật.

Các dấu hiệu khách quan khác

Đối với tội ra bản án trái pháp luật, ngoài hành vi khách quan, nhà làm luật còn quy định một dấu hiệu khách quan rất quan trọng, đó là tính “trái pháp luật” của bản án mà thẩm phán, hội thẩm ban hành.

Một bản án bị coi là trái pháp luật là bản án có nội dung không đúng với quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật Tố tụng hành chính. Nói chung, bản án trái pháp luật là bản án có những sai lầm nghiêm trọng về việc áp dụng pháp luật và vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng tới mức phải kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm.

d. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội ra bản án trái pháp luật thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là người phạm tội nhận thức rõ việc ra bản án của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

Điều luật quy định “biết rõ là trái pháp luật” tức là, người phạm tội phải biết rõ bản án mà mình ban hành là trái pháp luật; nếu vì lý do khách quan hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém mà Thẩm phán, Hội thẩm không biết rõ là trái pháp luật thì không phạm tội ra bản án trái pháp luật.

Tuy điều luật không quy định động cơ là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này nhưng không vì thế mà không cần xác định động cơ của người phạm tội. Thực tiễn xét xử cho thấy hành vi ra bản án trái pháp luật tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự đều xuất phát từ động cơ xấu như vì vụ lợi, vì thù tức hoặc vì động cơ cá nhân khác gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích của cơ quan, tổ chức hoặc lợi ích hợp pháp của công dân. Vì vậy, việc xác định động cơ phạm tội có một ý nghĩa rất quan trọng để xác định ý thức củ quan của người phạm tội cớ biết rõ bản án mà mình ra là trái pháp luật hay không.

Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp người phạm tội vì động cơ thành tích, muốn giải quyết nhanh để giảm tỷ lệ án tồn đọng. Căn cứ vào động cơ phạm tội có thể xác định người phạm tội có biết rõ bản án mà mình ban hành có trái pháp luật hay không.

Nếu Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhận hối lộ mà ra bản án trái pháp luật thì ngoài tội ra bản án trái pháp luật còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ.

Xem thêm : So sánh tội ra quyết định trái pháp luật với tội ra bản án trái pháp luật

2. Tội ra bản án trái pháp luật, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 370 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :

“Điều 370. Tội ra bản án trái pháp luật

1. Thẩm phán, Hội thẩm nào ra bản án mà mình biết rõ là trái pháp luật, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

c) Kết án oan người vô tội về tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng;

d) Bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng; người phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng;

đ) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

e) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Kết án oan người vô tội về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

b) Bỏ lọt tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

d) Dẫn đến bị cáo, người bị hại, đương sự tự sát;

đ) Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội ra bản án trái pháp luật theo Điều 370 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.